Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4: Khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng trong kỷ nguyên số

Với trên 423.000 đơn sở hữu công nghiệp được tiếp nhận và trên 255.000 văn bằng bảo hộ được cấp trong giai đoạn 2021 - 2025, hoạt động sở hữu trí tuệ tại Việt Nam ghi nhận đà tăng trưởng rõ nét. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành động lực phát triển, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh khai thác, thương mại hóa tài sản trí tuệ trong giai đoạn tới.

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4: Khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng trong kỷ nguyên số- Ảnh 1.

Sở hữu trí tuệ ngày càng gắn chặt với công nghệ số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo - Ảnh: VGP

Ngày 26/4 hằng năm - Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới - không chỉ là dịp tôn vinh các thành tựu sáng tạo, mà còn là thời điểm để nhìn lại vai trò ngày càng quan trọng của hệ thống sở hữu trí tuệ trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Thực tiễn cho thấy, hoạt động sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng.

Số liệu của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cho thấy hoạt động sở hữu trí tuệ tại Việt Nam tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Giai đoạn 2021-2025, Cục sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận trên 423.000 đơn sở hữu công nghiệp, tăng 26,5% so với giai đoạn trước; xử lý trên 436.000 đơn, tăng 69%; cấp trên 255.000 văn bằng bảo hộ, tăng 55,4%.

Tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm đạt 4,6% đối với số đơn tiếp nhận, 15,4% đối với số đơn xử lý và 18,6% đối với số văn bằng được cấp.

Đối với sáng chế và giải pháp hữu ích, số đơn đăng ký của tổ chức, cá nhân Việt Nam đạt trên 8.900, tăng 65,8%; số bằng được cấp đạt trên 3.100, tăng 91%, cho thấy năng lực sáng tạo trong nước đang từng bước được nâng cao. Những kết quả này phản ánh hiệu quả của việc hoàn thiện thể chế, chính sách về sở hữu trí tuệ trong thời gian qua.

Hoàn thiện thể chế, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo

Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua lần đầu năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006, và đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009, 2019, 2022 và gần nhất là năm 2025. Qua thực tiễn thi hành, luật đã phát huy vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý cho tổ chức, cá nhân xác lập, khai thác và bảo vệ quyền SHTT, góp phần hình thành môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư.

Đáng chú ý, ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số 131/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 1/4/2026. Đây được xem là bước hoàn thiện quan trọng nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Trên cơ sở đó, Luật sửa đổi năm 2025 tiếp tục đặt trọng tâm vào cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động sở hữu trí tuệ. Thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp được rút ngắn đáng kể: Thẩm định nội dung đơn sáng chế giảm từ 18 tháng xuống còn 12 tháng; đơn nhãn hiệu từ 9 tháng xuống còn 5 tháng; đơn kiểu dáng công nghiệp từ 7 tháng xuống 5 tháng; thời gian công bố đơn giảm từ 2 tháng xuống còn 1 tháng.

Đặc biệt, Luật đã bổ sung cơ chế thẩm định nhanh đơn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu trong thời hạn 3 tháng khi đáp ứng các điều kiện nhất định - một cơ chế mà hiện chỉ rất ít quốc gia áp dụng.

Cùng với đó, yêu cầu chuyển đổi số toàn diện được đặt ra, bao gồm việc ứng dụng công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo trong xử lý đơn, đơn giản hóa quy trình và tăng cường hậu kiểm. Đây là bước đi quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội đối với dịch vụ sở hữu trí tuệ.

Không chỉ dừng lại ở cải cách thủ tục, Luật sửa đổi năm 2025 còn mở rộng phạm vi bảo hộ đối với một số đối tượng mới, như kiểu dáng công nghiệp của phần không tách rời sản phẩm, hay sản phẩm phi vật lý như giao diện đồ họa, biểu tượng (icon). Quyền tác giả cũng được bảo hộ đối với tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa.

Đặc biệt, lần đầu tiên các vấn đề liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) được đề cập rõ trong luật. Theo đó, việc khai thác dữ liệu để huấn luyện AI được cho phép nhưng phải bảo đảm không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu. Đồng thời, luật khẳng định chỉ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng do con người tạo ra, từ chối cấp văn bằng nếu xác định chủ thể sáng tạo không phải con người.

Những quy định này thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc bắt kịp xu hướng toàn cầu, đồng thời giải quyết các thách thức mới phát sinh trong kỷ nguyên số.

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4: Khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng trong kỷ nguyên số- Ảnh 2.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Lee Jae Myung chứng kiến việc trao Bản ghi nhớ về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ giữa Bộ trưởng Bộ KH&CN Việt Nam Vũ Hải Quân và Bộ trưởng Bộ Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc Kim Yong Sun

Chuyển mạnh sang khai thác, thương mại hóa tài sản trí tuệ

Một điểm nhấn quan trọng của Luật sửa đổi là định hướng chuyển từ "bảo hộ quyền" sang "khai thác, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ như một loại tài sản có giá trị".

Luật đã thiết lập khung chính sách hỗ trợ tạo lập và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ theo hướng coi đây là một loại tài sản có khả năng sinh lợi, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, chủ sở hữu được quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện các giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư theo quy định của pháp luật, đồng thời được khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ thông qua các hình thức như góp vốn, thế chấp để vay vốn.

Để tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại hóa, Luật quy định xây dựng cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ nhằm minh bạch hóa thị trường, đồng thời phát triển các tổ chức trung gian như định giá, môi giới.

Luật cũng bổ sung quy định về việc lập danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với các quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ điều kiện ghi nhận là tài sản trên sổ kế toán. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa hình thành thói quen quản lý quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản quan trọng; tình trạng không duy trì hoặc gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ vẫn còn phổ biến.

Những quy định này đặt nền tảng cho bước chuyển quan trọng từ "bảo hộ quyền" sang "khai thác, sử dụng quyền như một tài sản có giá trị", qua đó giảm tình trạng "bằng độc quyền để treo", mở rộng nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực thúc đẩy khai thác tài sản trí tuệ, tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh. Các hành vi vi phạm có xu hướng chuyển dịch lên môi trường số, tận dụng tính ẩn danh và khó truy vết của không gian mạng.

Hàng giả, hàng xâm phạm nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý ngày càng được sản xuất với quy mô lớn, có yếu tố liên tỉnh, xuyên biên giới. Các đối tượng sử dụng công nghệ cao, bao gồm cả AI và deepfake, để tạo ra hình ảnh, video quảng cáo giả mạo nhằm đánh lừa người tiêu dùng.

Hình thức livestream bán hàng "chớp nhoáng", xóa dấu vết sau khi kết thúc cũng gây khó khăn cho lực lượng chức năng trong việc thu thập chứng cứ. Ngoài ra, các thủ đoạn như làm giả tem truy xuất nguồn gốc, sử dụng thông tin gây nhầm lẫn về sản phẩm ngày càng tinh vi.

Trước thực trạng đó, công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh với sự tham gia của nhiều lực lượng. Cục Sở hữu trí tuệ đã tích cực phối hợp với công an, quản lý thị trường, hải quan và tòa án trong việc cung cấp thông tin, hỗ trợ chuyên môn xử lý các vụ việc vi phạm.

Giai đoạn 2021-2025, cơ quan này cũng chủ động tham mưu hoàn thiện thể chế, tham gia xây dựng nhiều nghị định quan trọng liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 30/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ đã tạo thêm cơ sở pháp lý cho công tác này.

Tuy nhiên, việc triển khai chức năng thanh tra, kiểm tra chuyên ngành vẫn còn gặp khó khăn do sự chưa đồng bộ về thẩm quyền xử phạt trong giai đoạn chuyển tiếp, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan.

Những kết quả đạt được cùng với các thách thức đặt ra cho thấy yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực thi trong thời gian tới. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà còn là đòn bẩy chiến lược cho phát triển kinh tế tri thức.

Định hướng đặt ra là tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả thực thi, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc khai thác, thương mại hóa tài sản trí tuệ.

Nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4, việc khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực sở hữu trí tuệ càng được đặt ra cấp thiết, nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế. Đây cũng là điều kiện nền tảng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số.